28 tháng 11, 2011

Sơ đồ tư duy với việc học tập

Vận dụng sơ đồ tư duy trong học tập
Một trong những phương pháp học tập hiệu quả hiện đang được nhiều sinh viên, học sinh áp dụng là học bằng sơ đồ tư duy (SĐTD).
Ba bước tạo sơ đồ
Theo hướng dẫn của nhóm Lửa Xanh, sinh viên Trường ĐH Y Dược TP.HCM, thì chỉ cần bút và giấy là có thể lập một sơ đồ thông thường gồm ba bước.
Thứ nhất, vẽ chủ đề chính ở trung tâm tờ giấy với hình ảnh và màu sắc nổi bật, bổ sung thêm từ ngữ nếu chủ đề không rõ ràng. Tiếp theo, từ chủ đề trung tâm vẽ các nhánh, mỗi nhánh biểu thị cho một nội dung. Sau cùng, vẽ thêm các nhánh nhỏ, tương đương với từng ý và chi tiết hỗ trợ trong tiêu đề phụ. Những từ khóa dù tiêu đề chính hay phụ cũng nên viết in hoa để dễ nhìn, dễ nhớ. Nếu bài học có ít nội dung (ít các nhánh) nên vẽ các nhánh ấy tỏa khắp bốn góc của tờ giấy vì đây là cách phóng đại hình ảnh tốt nhất, giúp người học nắm bắt ngay các ý chính.
 
Một sơ đồ tư duy môn vật lý do học sinh Trường THPT Chơn Thành (tỉnh Bình Phước) thực hiện
Các nhánh chính phải tô màu nhằm phân biệt các ý. Tùy theo ý nghĩa của từ khóa mà chọn màu phù hợp. Chẳng hạn với từ khóa là “ánh sáng” thì dùng màu vàng để biểu thị cho ánh sáng mặt trời, từ khóa là “rừng” dùng màu xanh lá cây. Thông qua màu sắc, người học sẽ liên tưởng ngay đến nội dung từ khóa nhưng cũng đừng quá lạm dụng màu sắc vì dễ gây nhầm lẫn.
Sinh viên có thể dùng phần mềm FreeMind 0.8.1 (Phiên bản ổn định) và FreeMind 0.9.0 Beta 19 (phiên bản mới thử nghiệm) để vẽ trên máy vi tính.
 
Học sinh Trường THPT Marie Curie (TP.HCM) cùng vẽ SĐTD khi ôn tập - ẢnhT.Vân
Bốn mốc thời gian ôn luyện

Nguồn gốc của sơ đồ tư duy
Cha đẻ của phương pháp Mind map (Sơ đồ tư duy giản đồ ý) là giáo sư Tony Buzan, người Anh. Ông hiện là tác giả của 92 đầu sách, được dịch ra trên 30 thứ tiếng, xuất bản trên 125 quốc gia. Theo triết lý của Tony Buzan thì sơ đồ tư duy được hiểu là một cách mở ra sức mạnh tư duy, tạo ra những đột phá trong suy nghĩ. Buzan nghiên cứu chuyên sâu về bộ não, trí nhớ, tìm ra quy luật khi xây dựng sơ đồ gồm nhiều nhánh, giúp bộ não ghi chép các sự kiện một cách hệ thống. Sơ đồ tư duy giúp luyện tập trí não. Ở Việt Nam, hiện đã có 2 quyển sách dịch từ công trình của ông được xuất bản là Sơ đồ tư duy và Sử dụng trí não của bạn.
Theo Lê Phan Viên Hy, huấn luyện viên Trung tâm đào tạo kỹ năng sống TGM, sau khi vẽ xong, ngay lập tức ghi các thời điểm ôn lại vào góc nhỏ trên sơ đồ. Đồng thời ghi các thời điểm đó vào sổ tay để xem và thiết lập thời gian.
Thời gian ôn luyện lý tưởng như sau: 10 phút, 1 ngày, 1 tuần và 1 tháng sau khi vẽ. Các bước ôn luyện như sau: Nhìn qua sơ đồ, không đọc nội dung mà ước chừng thời gian để có thể ghi lại hết các nét và từ khóa. Chỉnh đồng hồ báo thức đúng thời lượng rồi bắt đầu học bài bằng việc ghi lại từng nhánh sơ đồ. Đối chiếu bài làm với bản chính. Có thể trong lần đầu sẽ thiếu sót một vài từ khóa, một vài nhánh, hãy nhìn kỹ những từ khóa đó để chắc chắn sẽ không quên trong lần ôn tiếp theo.
Nguyễn Duy Minh, sinh viên khoa Ngữ văn Anh Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM, thông tin: “Một ngày số lượng từ mới bắt buộc mình phải nhớ là rất nhiều. Nhờ SĐTD, mình đã nhớ lâu hơn, hệ thống nhanh các dạng của từ, giúp mình có sự so sánh, cân nhắc việc dùng từ mang lại hiệu quả cho việc học. Sơ đồ cũng giúp người vẽ thêm yêu thích môn học”. Ngoài ra, Minh cho rằng SĐTD trông sẽ dễ nhìn hơn nếu từ khóa được viết rõ ràng. Để học nhanh và ghi nhớ tốt, Minh khuyên nên chọn loại bút có nét thanh nhỏ, dễ nhìn, màu mực đừng quá đậm. Không nhất thiết phải dùng giấy to thì mới thể hiện các nhánh được rõ ràng. Giấy tập học sinh có những đường kẻ giúp canh được vị trí của các nhánh vì vậy càng dễ vẽ hơn. Ngoài ra cũng dễ dàng bảo quản và mang theo lên trường ôn bài. Nếu khéo léo có thể tóm tắt một bài học dài 3, 4 trang trên một trang giấy học trò.
Thầy Phan Minh Chánh, Hiệu trưởng Trường THPT Chơn Thành (tỉnh Bình Phước) là người đã ứng dụng SĐTD vào giảng dạy bộ môn vật lý đồng thời tạo website cá nhân để hướng dẫn cho học sinh ứng dụng phương pháp trên, chia sẻ: “Một SĐTD lý tưởng không nên chỉ lưu lại những ý chính mà còn có thể kèm thêm các bảng dữ liệu, đồ thị và các loại biểu đồ khác nếu cần thiết”. Thầy nêu kinh nghiệm: “Cách ghi chép trong sơ đồ hiệu quả là hãy nghĩ trước khi viết, viết ngắn gọn và có tổ chức, viết lại theo ý của mình, nên chừa khoảng trống để có thể bổ sung ý sau này”.
Tuyết Vân 

19 tháng 11, 2011

Dạy - Học Văn và thế giới cảm xúc của HS

Cô Nguyệt Anh với đề văn độc đáo
TT - “Cô đã không thể cầm được nước mắt khi đọc bài viết này của con. Giờ cô mới hiểu con là ai. Bài văn này quý nhất ở tấm lòng thành thực. Con hãy đọc nó trước ban thờ của mẹ con, con nhé!”.
Cô Đặng Nguyệt Anh trong giờ dạy văn ở lớp 11A1 chuyên lý Trường chuyên Hà Nội - Amsterdam - Ảnh: Quang Thế
Đây là một trong những lời phê, thực chất là lời tâm sự của cô giáo Đặng Nguyệt Anh - giáo viên dạy văn Trường chuyên Hà Nội - Amsterdam - với một nữ sinh của mình từng trải qua nỗi đau mất mẹ. Và những bài văn được đọc và chấm trong đêm khuya luôn là cầu nối để gắn bó tình thầy trò.
Mỗi đề văn là một chìa khóa
"Đề văn không nhằm lấy điểm để xét học lực, mà chỉ để học sinh có cơ hội giãi bày những trải nghiệm, tình cảm của mình"
Sự mới mẻ trong cách dạy học, cách ra đề thi, cách cùng học trò thâm nhập vào đời sống, tìm kiếm tư liệu để hoàn thành những bài tập, những đề tài khác nhau, đặc biệt là trái tim luôn hướng về học sinh với sự giao cảm kỳ lạ đã khiến cô giáo Đặng Nguyệt Anh có chỗ đứng trong lòng rất nhiều học sinh các thế hệ, kể cả những học sinh của khối chuyên các môn khoa học tự nhiên. Mỗi một tập bài chấm xong, mỗi một bài tập làm xong, mỗi một đề thi được gợi mở là một chìa khóa để cô giáo mở ra thế giới tâm hồn của các em học sinh.
Hiếm có giáo viên dạy văn nào có những đề văn độc đáo thế này: Anh/chị hãy chọn một trong ba đề sau: Đề 1: Tại sao lại không?; Đề 2: Điều em muốn nói với cô; Đề 3: Người ấy đối với tôi. Đây là đề văn cô giáo Đặng Nguyệt Anh ra cho học sinh lớp 10 chuyên Nga. Đề văn không nhằm lấy điểm để xét học lực, mà chỉ để học sinh có cơ hội giãi bày những trải nghiệm, tình cảm của mình.
Nguyễn Trà My, một học sinh chọn đề “Người ấy đối với tôi”, đã viết về mẹ của mình. Lần đầu tiên từ khi mất mẹ vào năm học lớp 3, cô bé này đã viết những dòng đầy xúc động về ký ức có mẹ, về nỗi đau đớn khi mẹ rời xa, về cả những dằn vặt, ghen tị với bạn bè khi em lớn lên trong tình cảnh thiếu sự chăm sóc của mẹ.
Một học sinh khác chọn đề “Tại sao lại không?” với cách đặt vấn đề khá thú vị: Có một cô bạn hỏi tôi “Hà này, đã bao giờ ấy quàng tay vào cổ mẹ và nói “Con yêu mẹ!” chưa?”. Một phút ngạc nhiên tôi lắc đầu “Chưa, chưa bao giờ”. Cô bạn bảo “Vậy tối nay về nhà gặp mẹ thử làm thế nhé”. Tại sao lại không?
“Tại sao lại không?” đã giúp nhiều học trò đặt những câu hỏi cho mình, để khám phá những điều thật giản đơn nhưng quý giá mà lâu nay các em không nghĩ đến.
Những đề văn siêu ngắn, chỉ vẻn vẹn 5-6 chữ, nhưng những trang viết của học trò thì sinh động và dào dạt. Không có thang điểm sẵn, không có đáp án cứng nhắc. Mỗi bài văn, một sự chia sẻ. Những chìa khóa đã được mở để đi vào tâm hồn học sinh một cách tự nhiên như vậy.
Cũng với những cách ra đề mới mẻ này, cô Đặng Nguyệt Anh đã biết đến Nguyễn Trung Hiếu khi em viết về mơ ước của mình và niềm đam mê môn vật lý của em, rồi “Thư gửi mẹ” chạm đến trái tim hàng ngàn bạn trẻ.
Chất liệu đời sống
Trong sáng kiến kinh nghiệm về “Cách ra đề bài nghị luận xã hội trong trường THPT”, cô giáo Đặng Nguyệt Anh đã kể về những trăn trở của mình khi nghe một cuộc điện thoại đầy nước mắt của học sinh kể về bài văn “lạc đề” hay băn khoăn về một bài báo đặt vấn đề “Văn nghị luận coi chừng... sáo”, rồi những tình huống sư phạm diễn ra trong quá trình dạy học.
Cô Nguyệt Anh tâm sự: “Tôi muốn dạy văn không phải chỉ là dạy tác phẩm văn học trong sách giáo khoa mà là dạy các em cách sống, cách ứng xử, thói quen chia sẻ tình cảm, tình yêu thương, dạy các em biết tìm kiếm thông tin để trình bày, thuyết minh về một điều gì đó mà mình trải qua, có cơ hội để hiểu biết về những gì đã và đang diễn ra xung quanh - Điều đó rất cần khi chúng ta rời mái trường. Dạy văn không chỉ là sự truyền giảng mà còn là sự chia sẻ, trao đổi, tương tác giữa thầy và trò”. Với suy nghĩ như thế, những đề văn nghị luận xã hội của cô Nguyệt Anh luôn khiến học sinh bất ngờ và hứng thú bởi chất liệu đời sống, bởi nó không đao to búa lớn, không đi theo những lối mòn.
Trong “bộ sưu tập” đề văn “lạ” của cô Nguyệt Anh có những đề cô viết xuất phát từ những sự kiện gây ám ảnh, hoặc suy nghĩ cho nhiều người. Ví dụ như sự cố sập cầu Cần Thơ hay sự cố một hoa hậu bị phát hiện chưa tốt nghiệp THPT sau khi đăng quang. Có một đề văn cô Nguyệt Anh bắt đầu bằng chuyện “Một bé trai đùm trong bọc nilông bị bỏ rơi ven quốc lộ 47 qua địa bàn tỉnh Thanh Hóa...” và yêu cầu học sinh trình bày giả định về nguyên nhân.
Với thể loại văn thuyết minh - một thể loại khô khan, thường học sinh lên mạng tìm kiếm thông tin để lắp vào bài văn. Không muốn học sinh nói theo người khác, cô giáo Nguyệt Anh đã cùng các em đi thực tế. Cô cùng các em tham quan quán chả cá Lã Vọng, trò chuyện với chủ quán, xem cách chế biến để các em viết về ẩm thực Hà Nội, hay yêu cầu các em đọc tất cả các thông tin về Văn Miếu, đến từng di tích hồ Gươm để viết bài thuyết trình. Cho học sinh đi thực tế trước khi viết văn là phương pháp riêng của cô. Khi dạy bài “Những cánh buồm”, cô “xui” học sinh viết điều ước lên những con thuyền giấy, cô trò cùng đi thả. Để thuyết minh về một con đường, cô Nguyệt Anh hướng dẫn học sinh tìm đến con đường mang tên danh nhân các em quan tâm để chụp ảnh, phỏng vấn người dân, tìm thông tin về danh nhân đó.
Không có giải pháp hoàn hảo
Một mình một lối đi, cô Nguyệt Anh không tránh khỏi những tình huống nhạy cảm. Vì khi đề nghị học sinh suy nghĩ theo hướng mở là chấp nhận việc các em tự do phát biểu quan điểm, suy nghĩ. Đã có học sinh thẳng thừng nói: “Tại sao lại phải mặc đồng phục khi đi học nhỉ?” khi làm một đề văn liên quan đến việc này. Và trách nhiệm của cô giáo không chỉ dừng lại ở việc ra đề, chấm bài nữa. Khi đó, những lời phê của cô giáo giống như lời trò chuyện, trao đổi và tranh luận với học sinh để em hiểu “không có giải pháp nào hoàn hảo”.
Nhiều tập bài của cô Nguyệt Anh chấm khiến chúng tôi bật cười vì cách “trò chuyện” độc đáo của cô trò, vừa thể hiện một giáo viên nghiêm khắc, kỹ lưỡng, nhưng cũng đầy cảm thông và trân trọng đối với học sinh.
Một số học sinh học cô Nguyệt Anh cho biết: “Lời phê, nhắn gửi của cô với mỗi học sinh đều được cô đánh máy lại cẩn thận thành một bản gửi cho từng học sinh kèm theo bài kiểm tra. Ai cũng có thể biết cô nhận xét gì về bài của mình, đồng thời qua nhận xét của cô với các bạn cũng hiểu thêm nhiều điều”.
Đó là một thành công lớn
Trong cuốn “Văn nghị luận ở THCS và THPT”, tác giả Hoàng Dân đã dành một phần để giới thiệu những đề nghị luận độc đáo của cô Nguyệt Anh. Ông gọi những việc làm của cô Nguyệt Anh trong cách ra đề, cách trả bài là “góc thầm lặng” nhưng luôn tạo cho học sinh cơ hội quý giá để thể hiện ý kiến của mình. Còn PGS.TS Trần Nho Thìn, Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn (ĐHQG Hà Nội), nhận xét: “Tôi đánh giá cao về cách tư duy ra đề của cô giáo Đặng Nguyệt Anh trong việc khuyến khích học sinh bày tỏ cái tôi, dám nói lên suy nghĩ, quan điểm của mình về cuộc sống bằng chính sự trải nghiệm của các em. Đó là một thành công lớn!”.
TRỊNH VĨNH HÀ
email
email
Chia sẻ:
http://tuoitre.vn/Images/bookmark/facebook_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/yahoo.jpg http://tuoitre.vn/Images/bookmark/twitter_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/google_48.png http://tuoitre.vn/Images/bookmark/myspace_48.png
top
(13)
Rất cần giáo viên như cô
20/11/2011 02:42:53
Cách dạy và ra đề Văn của cô thật sáng tạo. Nhưng thật tiếc khi điểm vẫn bị chấm theo đáp án.
TRẦN TIẾN HÙNG
Đôi điều băn khoăn
19/11/2011 18:55:25

Tôi cho rằng cách ra đề cũng như cách dạy văn của cô Nguyệt Anh đã hướng HS của mình đến với giá trị của cuộc sống, hướng đến đạo làm người. Với những đề như thế này tôi nghĩ HS không phải ngồi cắn bút hay khó nhọc cho những phần mở bài và cô cũng sẽ hiểu được HS mình hơn. Bạn học tôi ngày trước có nhiều truyện ngắn, thơ đăng báo thế nhưng chưa bao giờ được điểm quá 7 trong môn Văn. Phải chăng đề văn theo lối mòn đã gây ức chế cho HS? Tôi ngày trước cũng thích học văn và bài văn của mình tôi thường viết vào những bức xúc của cuộc sống hàng ngày, của những điều mình gặp phải.
Gặp tôi cô dạy văn khuyên tôi: em viết khá nhưng đừng viết theo báo chí vì đi thi sẽ bị thiệt thòi. Tôi không hiểu với cách ra đề "theo lối đi riêng" của mình HS cô Nguyệt Anh có bị thiệt thòi khi đi thi vì cách ra đề thi của ta cũng chưa đổi mới kịp?
Bài văn của cô không lấy điểm để xếp học lực vậy là trong lớp cô vẫn cho các bài theo chương trình, tôi nghĩ như thế thì HS sẽ thêm áp lực nhất là các em năm cuối lớp 12 không chọn khối thi có môn Văn. Tôi mong chương trình có những đổi thay để HS có dịp thể hiện những suy nghĩ của mình.

ĐÀM THỊ XUÂN UYÊN
Dạy và học văn phải hướng đến nhân bản và sáng tạo
19/11/2011 15:36:50

Tôi rất tâm đắc với những đề văn của cô giáo Đặng Nguyệt Anh. Đã đành rằng dạy/học là phải dạy/học kiến thức. Nhưng con người không phải là cái máy và kiến thức học được nếu không được vận dụng sáng tạo thì chỉ là "kiến thức chết"; nếu không hướng đến nhân văn thì những kiến thức đó còn có thể phản tác dụng nữa. Đáng tiếc rằng trong dạy/học của ta hiện nay, không nhiều người làm được như vậy.
Cần nhân rộng những điển hình như cô giáo Đặng Nguyệt Anh với phương pháp dạy/học gợi mở để học sinh không trở thành những "con vẹt" khi học văn mà hướng đến nhân bản, hướng đến sáng tạo. Chúc mừng cô giáo Nguyệt Anh nhân ngày tôn vinh các thầy/cô 20-11.

NGUYỄN THIỆN TÂM
Thích lắm
19/11/2011 14:19:44

Đọc mấy đề văn của cô, em cảm thấy rất thích thú. Ngày xưa đi học cũng không nghĩ nhiều, cứ thầy cô cho đề là hì hục làm. Nhưng lớn hơn một chút, em chợt nghĩ: Chúng ta học môn "tập làm văn", môn "văn học" hay là học môn "tập làm người", môn "người học". Suy cho cùng thì văn học đi ra từ đời sống, văn học phản ảnh cuộc sống.
Và hay biết mấy khi các học sinh cũng đưa được cuộc sống của chúng vào văn? Tự tay các học sinh sẽ làm điều đó chứ không phải là một nhà văn, nhà thơ nào hết.

PHAN VIẾT HUY
Băn khoăn
19/11/2011 14:10:19

Cô Nguyệt Anh ơi, cách dạy sáng tạo, không gò bó của cô chúng tôi thích lắm. Nhưng có một điều chúng tôi băn khoăn, thời khóa biểu theo quy chế của Bộ GD-ĐT phân một tuần 4 tiết văn, mỗi tiết 45 phút, phải dạy hết nội dung kiến thức mà SGK là pháp lệnh. Hơn nữa khi ra đề thi những nhà chuyên môn họ đâu ra dạng đề mở ấy đâu.
Vậy thời gian nào để dạy thêm, dạy và sửa các bài văn nhằm phát huy sáng tạo của học sinh? Ra bài về nhà thì tôi e học sinh đã quá nhiều bài vở của cả các môn khác, liệu có quá tải không ? Thích kiểu dạy của cô nhưng đối với chúng tôi thì cảm thấy khó quá, chỉ phù hợp với mấy trường chuyên thôi.

HOÀNG THỊ THÚY
Chúc cô ngày càng có nhiều học trò giỏi
19/11/2011 13:27:16

Nhân ngày 20/11, kính chúc cô nói riêng và toàn thể các thầy cô giáo thật nhiều sức khỏe và nền giáo dục nước nhà sẽ ngày một tiến bộ hơn.
Đọc bài viết này tôi rất vui, rất xúc động vì từ trước đến giờ tôi chưa từng được làm những bài văn thể hiện bản thân như thế. Tuổi mới lớn cũng như là tuổi trẻ thì lúc nào cũng khao khát được thể hiện, được trình bày quan điểm của mình trước những hiện tượng khách quan tác động vào tâm trí của họ.
Bản thân tôi là một người yêu văn học nhưng mỗi khi nghe nhắc đến việc bình luận, bình giảng tác phẩm văn học thì lại rất là ngán ngẩm, bởi lẽ nó chẳng có gì mới cả. Tôi nghĩ kiến thức giáo khoa thì chỉ nên chiếm 30% số điểm trong một bài làm văn.
Còn lại nên để các cô cậu học trò tự thể hiện cái tôi của mình, mặt khác để tình cảm thầy trò thêm gắn bó, thông cảm cho nhau vì đó là hai thế hệ.
Hãy nhìn cái cách ăn mặc của học sinh bây giờ so với 10 năm về trước thôi đã là một khoảng cách, họ muốn thể hiện mình vậy thì cứ để họ tự do trình bày quan điểm.
Có lẽ do cái tôi bị nén nhiều quá nên có lúc nó bị nổ tung thành những hậu quả nặng nề như những vụ án học sinh đâm bạn, tưới xăng đốt bạn trong thời gian vừa qua.
Khi mỗi cái tôi không có dịp gặp nhau để rồi trò chuyện, cảm thông cho nhau thì lúc bị xúc phạm, chúng sẽ tương tác nhau hình thành nên tội ác.

BÙI TUẤN CƯỜNG
Dạy văn chính là dạy làm người!
19/11/2011 12:26:06

Em chào cô! Là một sinh viên sư phạm, một đồng nghiệp tương lai của cô, em xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến những cách làm và suy nghĩ tích cực của cô tròn sự nghiệp trồng người. Tuy dạy môn hóa học nhưng em biết rằng những môn khoa học xã hội đóng vai trò rất lớn đến hình thành nhân cách thế giới quan cho các em học sinh. Em sẽ cố gắng noi theo những cách làm hay của cô trong việc dạy dỗ học sinh sau này. Chúc cô ngày lễ 20/11 vui vẻ, chúc cô có nhiều sức khỏe để dìu dắt các thế hệ học sinh tương lai vững chãi bước vào đời!

NGUYỄN TRẦN BẢO HUY
Thật mới mẻ !
19/11/2011 12:00:04

Bản thân tôi cũng là một giáo viên văn nhưng khi đọc bài báo của Trịnh Vĩnh Hà viết về cô tôi cảm thấy khâm phục cô vô cùng.
Thứ nhất: Sự mới mẻ trong cách giáo dục học sinh ở môi trường sống hiện đại như hiện nay.
Thứ 2: Cô là người tiên phong phá vỡ cách giáo dục áp đặt như trong nhà trường của chúng ta hiện nay,(đi học là chỉ nghe giáo viên giảng và đi theo định hướng của giáo viên chứ không dám nói lên cái tôi cá nhân)
Thứ 3: Cô dám dẫn học sinh đi thực tế để viết bài thuyến minh. Đó là hình ảnh trực quan, sinh động nhất mà không sợ có chuyện gì xảy ra. Và còn nhiều thứ tôi khâm phục cô.
Nói tóm lại cô là giáo viên được phong là" kỹ sư tâm hồn" và dám nghĩ dám làm. Tôi cũng từng đặt câu hỏi cách giáo dục như cô nhưng rồi lại không dám, chỉ vì "sau lũy tre làng".
Tôi mong sau bài viết này có nhiều giáo viên bứt phá trong cách giáo dục học sinh trong nhà trường hiện nay.
Kính chúc cô ngày 20/11 đầy ý nghĩa!

NGUYẾN KIML IÊN
Một nhà giáo tiên phong trong nhận thức và hành động
19/11/2011 11:05:31
- Tôi kính trọng và ủng hộ cách giáo dục của cô Nguyệt Anh. - Văn học không phải là môn nhằm đào tạo nghề . Mà là môi trường để phát triển tư tưởng, nhân cách, nhân văn. Môi trường ấy phải đáp ứng được điều kiện là không gian tự do, dung chứa được sự muôn màu sắc của cái riêng phong phú, đa dạng, đa chiều. Không gian đó phải có thuộc tính là sự sinh động, linh hoạt và phi khuôn khổ để dung chứa sáng tạo. - Ngành giáo dục có trách nhiệm nghiên cứu cải cách môn văn học từ chương trình đến cách thức giảng dạy. Học sinh vừa phải có sân khuôn khổ "để tập những động tác cơ bản" vừa có khung trời không giới hạn để sáng tạo, hình thành tư tưởng, nhân cách riêng.
THANH NGUYÊN

    9 tháng 5, 2011

    Giúp HS thường xuyên học bài

    Giúp HS thích thú với việc học bài

    Giaoduc.edu.vn Thứ Hai, 09 Tháng năm 2011, 15:05 GMT+7 
    Việc học thuộc bài được xem như yêu cầu bắt buộc dành cho học sinh (HS). Tuy nhiên, những năm gần đây, tình trạng HS không thuộc bài khi thầy cô kiểm tra bài cũ (vào đầu tiết học) lại có chiều hướng gia tăng. Nhiều em HS cho biết, do những năm học ở tiểu học, thầy cô không có kiểm tra bài cũ nên khi lên học THCS, mỗi ngày các em phải học bài bốn hoặc năm môn thì làm sao học thuộc cho nổi. Vì vậy, các em đành chấp nhận không học bài và bệnh lười học phát sinh từ đây. Vậy, làm thế nào để giúp cho HS siêng năng học bài để lĩnh hội kiến thức? Theo tôi, cần có sự quản lý chặt chẽ từ gia đình và nhà trường thì HS mới cố gắng học thuộc bài.
    Cha mẹ dù bận công việc thế nào thì cũng cần có thời gian để quản lý việc học bài của con mình. Nếu cần thì ngay góc học tập của con mình cần có khẩu hiệu: “Học bài chưa xong, chưa đi ngủ. Làm bài chưa đủ, chưa đi chơi” như là sự nhắc nhở các em biết nhiệm vụ học tập của mình.
    Còn ở trường, thầy cô cần thường xuyên kiểm tra bài cũ trước khi dạy bài mới. Nếu thầy cô không kiểm tra bài cũ thì các em thuộc bài sẽ thấy công học bài của mình không còn ý nghĩa, dần dần sẽ lười học. Cần có điểm khuyến khích dành cho các HS xung phong trả bài. Nếu HS nào không thuộc bài thì thầy cô cần cho chép bài phạt. Chẳng hạn, tôi qui định là em nào trả bài đạt 5 điểm thì khỏi chép bài phạt; em nào bị 1 điểm thì chép bài phạt bốn lần, 3 điểm thì chép bài phạt hai lần… Thời gian nộp bài phạt là một tuần. Nếu em nào không nộp đúng thời hạn thì sẽ bị chép bài phạt tăng lên. Việc chép bài phạt xem như hình thức giúp HS học thuộc bài. Song song đó, giáo viên nên giúp HS lập dàn ý khi học bài. Nghĩa là các em chỉ cần nhớ ý chính rồi từ ý chính đó sẽ diễn đạt theo ý của mình, miễn sao nói đúng ý là tốt. HS cần thuộc bài trên tinh thần hiểu bài chứ không phải học vẹt…
    Nguyễn Thanh Dũng
    (GV Trường THCS Phước Lý, Cần Giuộc, Long An)

    21 tháng 4, 2011

    Ôn tập môn ngữ văn: Luyện cho thí sinh kỹ năng phân tích đề

    Theo giaoduc.edu.hcm Thứ Tư, 20 Tháng tư 2011, 08:04 GMT+7 

    Khi ôn tập, giáo viên phải hướng dẫn học sinh kỹ năng phân tích đề, có thể đưa ra hai câu thơ hoặc một ý kiến để các em tập viết thành một đoạn văn. Ảnh: N.Anh
    Cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT môn ngữ văn thường có 3 câu, trong đó câu 1 hỏi về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của tác giả. Do đó, với câu hỏi này đòi hỏi thí sinh phải thuộc bài, biết nêu những ý chính phần tiểu dẫn trong SGK. Tuy nhiên, so với SGK cũ, nội dung SGK mới hiện nay có phần nhẹ hơn, không nặng nề như các năm trước. Thí sinh cần lưu ý đây không chỉ là câu hỏi về tác giả văn học nước ngoài mà cả văn học Việt Nam nữa. 
     Đây cũng là câu hỏi “tốn công” thí sinh nhiều nhất vì phải nắm hết kiến thức tất cả tác giả được giới thiệu trong chương trình. Nhiều khi đề bài cũng hỏi về một số chi tiết trong tác phẩm. Ví dụ khi đề bài hỏi về: “Ý nghĩa hình tượng rừng xà nu” thì các em phải xác định bên cạnh ý nghĩa tả thực còn có ý nghĩa biểu trương của hình ảnh đó. Ngoài thao tác giải thích phải có dẫn chứng tiêu biểu để chứng minh. Phân tích tác phẩm văn xuôi đòi hỏi các em phải nhớ dẫn chứng và biết cách cảm nhận nên khó hơn so với phân tích thơ. Chính vì vậy, nhiều em hay bị sa vào diễn xuôi, kể lại cốt truyện từ đầu đến cuối. Đây là điều cần tỉnh táo để tránh khỏi bị “vướng” vào. Tất nhiên cách phân tích ở đây không giống như phân tích toàn bộ tác phẩm ở bài văn nghị luận văn học như ở câu 3.

    Câu 2, thuộc văn nghị luận xã hội, bàn về một vấn đề tư tưởng, đạo lý hay hiện tượng xã hội trong cuộc sống. Mặc dù đáp án được 3 điểm nhưng đa số thí sinh không trình bày đúng như đáp án vì chưa có nhiều kiến thức xã hội nên tổng số điểm ít khi đạt được tối đa mà chỉ dao động từ 1-1,5 điểm. Ở câu hỏi này các em vừa trình bày thực trạng, vừa giải thích nguyên nhân, đồng thời tìm được giải pháp khắc phục. Ví dụ đề thi yêu cầu: “Vai trò của nhà trường đối với việc truyền thụ kiến thức văn hóa” thì thí sinh phải trình bày được những biểu hiện của vấn đề và biết liên hệ vào thực tế. Nên tìm những vấn đề gần gũi vì thông thường thí sinh yếu về dẫn chứng thực tế. Thí sinh biết xác định đề bài hỏi về vấn đề gì không phải là chuyện dễ. Muốn vậy thì phải có kỹ năng phân tích đề. Khi luyện tập, giáo viên có thể đưa ra hai câu thơ hoặc một ý kiến để các em phân tích, tập viết thành một đoạn văn.

    Ở phần nghị luận văn học, giáo viên yêu cầu phân tích chi tiết truyện như hành động cởi trói A Phủ của nhân vật Mỵ, nhan đề tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân, đôi bàn tay của Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu… Khi luyện tập kỹ năng phân tích nhân vật, giáo viên không yêu cầu các em phân tích toàn bộ tác phẩm mà “nhặt” ra một ý nhỏ, một sự kiện đặc biệt trong cuộc đời nhân vật để tập phân tích như: “Niềm hi vọng tương lai ở nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt”.

    Đặc biệt, để hệ thống hóa kiến thức, giáo viên nên lập bảng hệ thống để các em tự soạn bao gồm các cột như tên tác phẩm, thể loại, cuộc đời tác giả, hoàn cảnh sáng tác, giá trị nội dung và nghệ thuật…
    Phạm Chí Dũng
    (Chuyên viên Phòng GDTX Sở GD-ĐT TP.HCM)
    Phân tích tác phẩm văn xuôi phải chú ý tình huống truyện, kết cấu, miêu tả tâm lý tính cách nhân vật, cách đối thoại, ngôn ngữ kể chuyện, giọng văn… Phân tích nhân vật thì chú ý số phận, nội tâm, tính cách, mối quan hệ của nhân vật này với các nhân vật khác. Phân tích thơ thì chú ý thể thơ, hệ thống hình ảnh, sử dụng ngôn từ, bút pháp miêu tả…

    17 tháng 4, 2011

    NGƯỜI ĐÀN BÀ HÀNG CHÀI- MẪU NGƯỜI VỢ, NGƯỜI MẸ LÝ TƯỞNG???

    Ðề: Hình ảnh người đàn bà trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu


    Dàn ý chi tiết phần thâm bài:

    - Vốn sinh ra trong một gia đình khá giả nhưng người đàn bà hàng chài lại là một người có ngoại hình xấu xí. Những nét thô kệch ấy, trong lam lũ vất vả bởi những lo toan và mưu sinh thường nhật, khi đã ngoài 40, lại càng trở nên đậm nét.
    - Sức chịu đựng và sự hi sinh thầm lặng của người đàn bà làng chài làm nhiều người ngỡ ngàng
    + Vừa ở dưới thuyền lến tới chiếc xe rà phá mìn, chị đã bị chồng rút chiếc thắt lưng quật tới tấp. Nghệ sĩ Phùng tưởng chị sẽ tránh né hoặc kêu la. Nhưng chị cam chịu, nhẫn nhục, không kêu rên, không chống trả và cũng không chạy trốn. Chị chấp nhận những đòn roi như một phần cuộc đời mình; chấp nhận như cuộc sông của một người đi biển đánh cá phải đươg đầu với sóng to, gió lớn vậy. Muốn tồn tại thì phải chấp nhận.
    + Tuy nhiên, người đàn bà ấy cũng rất tự trọng. Chỉ sau khi biết được hành dộng vũ phu của chồng bị thằng Phác và người khách lạ chứng kiến, chị mới thấy đau đớn- vừa đau đớn vừa xấu hổ, nhục nhã. Chắc chắn đây không chỉ là sự đau đớn về thể xác. GIọt nước mắt đau khổ của người đàn bà đã trào ra. Đó là giọt nước mắt nhọc nhằn và chịu đựng.. Chị không muốn bất cứ ai chứng kiến và thương xót, kể cả thằng Phác đứa con yêu của chị, và nhất là một người lạ. Thân thể bị chà đạp, nhân phẩm bị xúc phạm, nhưng người đàn bà ấy không hề bận tâm – một sự nhẫn nhục của người có nhân cách, có lòng tự trọng và thấu lẽ đời, có tình thương con vô bờ.
    + Khi ở tòa án huyện, chính người phụ nữ ấy đã đem đến cho phùng, Đẩu và người đọc những xúc cảm mới. ĐƯợc mời lên tòa án để giải quyết việc gia đình, lúc đầu chị rụt rè, tìm một góc dường chốn công đường kia để ngồi. CHị thấy sợ hãi khi đến một không gian lạ. Chị thật nhỏ bé, tội nghiệp ở chốn công đường kia. Cái thế ngồi là bị động, dù đã được Đẩu và phùng chia sẻ, cảm thông.
    + NMC đã dụng công nhấn mạnh vào sự đổi thay ngôn ngữ và tâm thế của người đàn bà hàng chài. Với chánh án Đẩu, nghệ sĩ Phùng, lúc đầu chị thưa gửi, xưng con và có lúc van xin con lạy quý tòa. Khi đã lấy được tự tin, tâm thế đã thay đổi, người đàn bà đó đột ngột chuyển cách xưng hô: “chị cảm ơn các chú! Đây là lời chị nói thành thự, chị cảm ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn lam lũ, khó nhọc…” Một sự hoán đổi ngoạn mục.+ Người đàn bà ấy chấp nhận đau khổ, coi nõi khổ là lẽ đương nhiên. CHị sống cho con chứ không phải cho mình. Nếu phụ nữ chấp nhận đàn ông uống rượu, thì chị cũng chấp nhận bị đánh, chỉ xin chồng đánh ở trên bờ, dừng để các con nhìn thấy.ĐÓ cũng là một cách ứng xử nhân bản.
    + Ở đây. Lẽ đời đã chiến thắng. Người lao động lam lũ, nghèo khổ không có uy quyền nhưng cái tâm của một người thương con, thấu hiểu lẽ đời cũng là một thứ quyền uy có sức công phá lớn. Nó đã làm chánh án Đẩu, nghệ sĩ Phùng thức tỉnh và ngộ ra nhiều điều.- Có thể nói, người đàn bà hàng chài là biểu tượng của tình mẫu tử. CHị quặn lòng vì thương con; chị đã cảm nhận và chấp nhận san sẻ nỗi đau với chồng, cảm thông và tha thứ cho chồng. VỚi chị, gia đình hạnh phúc là gia đình trọn vẹn các thành viên, cho dù có những tính cách sứt mẻ, chưa hoàn thiện

    ĐỌc truyện này, mình cứ thấy hai hình ảnh đối lập: một người đàn bà lặng lẽ cam chịu, nhẫn nhục, cục mịch, xấu xi và một người đàn bà tươi tắn, rạng rõ nụ cười trong bữa cơm gia đình. Dường như người đàn bà thứ 2 kia để lại ấn tượng sâu sắc hơn

    MỴ TRONG ĐÊM CỨU A PHỦ

    Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cứu A Phủ (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài).
    Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ chồngA Phủ" mà nhà văn Tô Hoài đã giành nhiều tài năng và tâm huyết để xâydựng. Truyện được trích từ tập "truyện Tây Bắc" (1953) của Tô Hoài.Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoàiđã có dịp sống, cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi,chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìm được cảm hứng để viết truyện này. TôHoài thành công trong "Vợ chồng A Phủ" không chỉ do vốn sống, tình cảmsống của mình mà còn là do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa.Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật,trong đó nổi bật và đáng chú ý nhất là biện pháp phân tích tâm lý vàhành động của Mị trong từng chặng đường đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sựphát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lý và hành động củanhân vật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy được giá trịhiện thực và nhân đạo của tác phẩm.

    Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượngnhất đó chính là hình ảnh của cô gái "dù làm bất cứ việc gì, cô ta cũngcúi mặt, mắt buồn rười rượi". Đó là tâm lý của một con người cam chịu,buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mịcó nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử.Mị không được lấy người mình yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người màmình sợ hãi, lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thầnquyền, đồng tiền của nhà thống lý Pá Tra đã biến Mị thành một đứa condâu gạt nợ. Mang tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng,nhưng thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều đó làmMị đau khổ, Mị khóc ròng rã mấy tháng trời và từng có ý định ăn nắm lángón kết thúc cuộc đời mình. Thế nhưng "sống lâu trong cái khổ, Mị quenkhổ rồi". Chính vì thế Mị đã buông xuôi trước số phận đen tối của mình,trái tim của Mị dần chai sạn và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó.

    Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng củamột người yêu đời, yêu cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sốngđen tối, đầy bi kịch. Điều đó đã được thể hiện trong đêm mùa xuân.

    Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triểntheo những cung bậc tình cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậctrước. Ban đầu, Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hátngười đang thổi, rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa...Mị ý thức được về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi. Nhưngsợi dây thô bạo của A Sử đã trói đứng Mị vào cột. Thế nhưng sợi dây ấychỉ có thể "trói" được thân xác Mị chứ không thể "trói" được tâm hồncủa một cô gái đang hòa nhập với mùa xuân, với cuộc đời. Đêm ấy thật làmột đêm có ý nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sauhàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một đêmcô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim mình.

    Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đờitrâu ngựa. Thế nhưng viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổcái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sốngtiềm tàng trong lòng Mị. Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổiđi lớp tro buồn nguội lạnh ấy thì đốm lửa ấy sẽ bùng cháy và giúp Mịvượt qua cuộc sống đen tối của mình. Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngờilên ở chỗ đó.

    Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính lànhững đêm mùa đông dài và buồn trên núi rừng Tây Bắc đang về. Mùa đôngrét buốt như cắt da cắt thịt, vì thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếplửa để thổi lửa hơ tay. Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị tróiđứng chờ chết giữa trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửahơ tay "Dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi". Tại sao Mị lạilãnh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chếtlà một việc làm bình thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen vớiđiều đó nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ,Mị quen khổ rồi" nên Mị lãnh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của ngườikhác. Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cảrồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, "Mịlé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắtlấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại". Đó là dòng nước mắt củamột kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần. Chính "dòngnước mắt lấp lánh ấy" đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị.Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh ngộ. Đêm mùa xuântrước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơixuống miệng, xuống cổ không lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy giốngmình về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông chonhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, “chúng nóbắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cái nhà này”. Lýtrí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác”. Việc trói người đến chếtcòn ác hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà mộtngười thanh niên khỏe mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời đã phảilấy mạng mình thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ khôngbằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thếmà thôi. Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đaukhổ cay đắng cho thân phận của mình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắtta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũ xương ở đâythôi”. Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này, chỉ đêm naythôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ngườikia việc gì mà phải chết như thế. A Phủ…. Mị phảng phất nghĩ như vậy”.Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chếtvì cái tội để mất một con bò! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh APhủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái cộttưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ, sự suy tưởng của Mị làcó cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đã biến Mị từ một con người yêu đời,yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với tình yêuthành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đã tàn ác khitrói một người đàn bà ngày trước đến chết thì chẳng lẽ chúng lại khôngđối xử với Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh”của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với ngườicùng cảnh ngộ, Mị nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúpMị nhận ra bọn lãnh chúa phong kiến thật độc ác, Mị xót xa trước sốphận của mình rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đếncái cảnh mình bị trói đứng… Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến vớihành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. Đó là mộtviệc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lícủa Mị trong đêm mùa đông này.

    Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờmình dám làm một chuyện động trời đến vậy. Mị thì thào lên một tiếng“đi ngay” rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi, còn Mị vẫn đứng lặngtrong bóng tối. Ta có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mốicủa Mị lúc này. Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủhay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúcMị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băngđi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúaphong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua. Mịđuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu nămcâm nín: “A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là lời nói khaokhát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biếtbao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân- hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời củamình. Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đã rờibỏ Hồng Ngài - một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗibuồn đau, tủi nhục thì chồng chất không sao kể xiết. Hai người rời bỏHồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũngchưa biết đến…

    Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàngđóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính nó đã giúp Mị vượt lên trênsố phận đen tối của mình. Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tựcứu lấy bản thân mình. Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi nhữngphẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụnự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương cho sốphận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạycảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửacòn sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ởđó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân límuôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chốnglại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị. Quả thật, tác phẩmnày giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.

    Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập“Truyện Tây Bắc” nói chung, ta hiểu vì sao Tô Hoài lại thành công trongthể loại truyện ngắn đến như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắcdân tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàutính tạo hình đã hội tụ và phát sáng trong truyện ngắn này. Tác phẩm“Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyện ngắn - giải thưởng doHội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 - 1955. Và “Vợ chồng A Phủ”thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá trịnghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắnnày quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách Tô Hoài.

    Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảmthông sâu sắc trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiếnmiền núi, từ đó giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn. Đâyquả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó đã góp phần nhân đạohóa tâm hồn bạn đọc như Nam Cao đã quan niệm trong truyện ngắn “Đờithừa”.